Phân biệt “empathy” và “sympathy”

Tiếng Anh có nhiều cặp từ dễ nhầm lẫn do cách viết hoặc nét nghĩa gần giống nhau. “Empathy” và “sympathy” cũng là cặp từ cần lưu ý về cách sử dụng.

empathy-sympathy-6321-1491036013.jpg

Cả 2 từ sympathy và empathy đều có chung gốc từ chữ páthos của Hy Lạp có nghĩa là ” trải nghiệm, cảm nhận”. Tiền tố ‘sym-‘ xuất phát từ từ ‘sýn’ nghĩa là “cùng nhau, với nhau”;  tiền tố ’em-‘ có nghĩa là ” bên trong”.

#1 Sympathy (‘fellow feeling’, ‘community of feeling’) 

aid1393495-v4-728px-Sign-a-Sympathy-Card-Step-3-Version-2Sympathy là thuật ngữ có trước, nó trở thành tiếng Anh vào khoản giữa thế kỷ 16 với nghĩa khá chung chung ví dụ như “sự hài hòa về phẩm chất giữa người và người hoặc người và vật. Sau dần thì thuật ngữ này được dùng một cách cụ thể hơn. Ngày nay thì thuật ngữ này dùng rộng rãi để diễn tả ” sự thương xót hoặc cảm giác đau buồn” với những người gặp khó khăn. Và kiểu diễn đạt này được dùng trong những thiệp dạng “sympathy”- chuyên dùng vào việc chia buồn với nỗi đau hoặc mất mát của người khác

ví dụ:

– If I sympathise with you, I do not necessarily feel as you do, but I wish you felt better.

– I sympathize with people affected by the sea pollution. (Tôi chia sẻ nỗi đau với những người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm biển).

Bạn có thể thương cảm những ngư dân bị mất biển, nhưng nếu chưa bao giờ sống bằng nghề chài lưới, bạn sẽ không thể có empathy với họ. Chỉ có người từng sống chết với biển khơi và các luồng cá mới có thể làm được điều ấy (feel empathy).

Sympathy (‘fellow feeling’, ‘community of feeling’) như 1 hành động ôm nhẹ hoặc choàng vai khi người bạn mình bị buồn rầu ũ rũ vậy.

Sau đây là vài hình ví dụ về loại thiệp sympathy (sympathy card) mình có nhắc tới

 

#2 Empathy -put yourself into someone’s shoes

Empathy thì gia nhập vào tiếng Anh trễ hơn, khoảng cuối thế kỷ 19. Ban đầu từ này được dùng trong lĩnh vực tâm lý học, nhằm diễn tả biểu hiện sinh lý của cảm xúc. Cách dùng này hiện tại đã lỗi thời.  Hiện nay thì empathy (thấu cảm) đã được dùng phổ biến để diễn tả trạng thái đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để thấu hiểu nỗi đau của họ (put yourself into someone’s shoes– to share in someone else’s perspective, I must do more than merely put myself into his position.)
Ví dụ:
– If I empathise with you, I feel your pain.
– I empathize with students being late in class, because I was always late as a student. (Tôi thông cảm với sinh viên đến muộn, vì hồi là sinh viên, tôi đi học muộn suốt).

EMPATHY= 

pity, sympathy, compassion, empathy ?

inforgraphic.png
Thương hại, thông cảm, thấu cảm, thương xót, từ bi …là những cấp độ tăng dần của cảm xúc

Những cảm xúc này thường phát triển trong thời thơ ấu của chúng ta, ngay cả một đứa trẻ 2 tuổi cũng có thể thấu cảm với bạn của mình.

Các nghiên cứu cho thấy rằng một đứa trẻ bắt đầu phát triển cảm xúc của sự thông cảm trước tiên và sau đó là sự thấu cảm, bởi vì tiếp xúc và kinh nghiệm.

Ngoài ra để củng cố trí nhớ sau khi học 2 từ này bạn có thể xem thêm video này

Tóm gọn, sau khi đọc hết bài này bạn chỉ cần nhớ

Sympathy is, “I know how you feel”
while
Empathy is “I feel how you feel”.

————————

Bài này được viết dựa trên cảm hứng vào đề thi tốt nghiệp THPT môn văn năm nay về chữ “thấu cảm” và lòng trắc ẩn

19366573_10203706499060385_544187423331589068_n.jpg

Đề thi Ngữ Văn năm nay đâu có tệ hén,  mình đọc đề thi cảm thấy vui vui và nhen nhóm chút lạc quan về giáo dục của Việt Nam.

“Chữ “thấu cảm” ít xuất hiện trong xã hội hiện nay, ít hơn nhiều so với những chữ như “kỹ năng”, “tài năng”, “quyết tâm” hay “chăm chỉ”. Đây là một điều đáng tiếc, bởi thấu cảm là nền tảng để trên đó xây dựng sự khoan dung, lòng trắc ẩn và sự tử tế. Thấu cảm cũng là thành tố cơ bản của trí tuệ cảm xúc, mà không có nó thì người ta sẽ bị “điếc” về xúc cảm, không nhận biết được phong cảnh nội tâm của người khác và của chính bản thân, tương tự như khi ta nghe một bản giao hưởng mà chỉ thấy một bức tường âm thanh bùng nhùng, không tách bạch được các loại nhạc cụ.” – Đặng Hoàng Giang

Mục đích tối thượng của môn văn học phải là  vậy đúng không? văn học là nhân học là về con người mà, là rèn luyện tư duy phản biện, là “lòng trắc ẩn” được sinh ra từ “thấu cảm”, là sự rung động với cái đẹp, sự cảm thông nỗi đau, sự hoan hỉ bồi hồi của niềm vui, là sự say mê với thứ tiếng Việt giàu đẹp…  chớ  văn học đâu phải học thuộc lòng. Mình thấy đề năm nay thiệt tốt vì không cần ôn mà có kiến thức nền và vốn từ vựng tiếng Việt đủ  thì có thể làm bài này trên trung bình không quá khó khăn.
Thú vị thêm nữa là ở chỗ chỉ cần “đọc hiểu” là có thể làm bài – đúng tính chất reading comprehension của bài đọc tiếng Anh, không cần hỗ trợ của tài liệu bên ngoài 😉

Giới thiệu với các bạn về Bảo tàng Thấu cảm ở Anh (http://www.empathymuseum.com/), nơi người ta có thể xỏ chân vào đôi giày của người khác (put yourself into someone’s shoes), và lắng nghe câu chuyện đời của người khác, một cô gái điếm, một người tị nạn, một người công an, để vượt qua kỳ thị và định kiến.
Y hệt như trang Humans of New York từng làm sau đó lan dần sang Việt Nam với những trang như Humans of Saigon, Một Phút Sài Gòn…v.v…

Nếu bạn không tin tiếng Việt giàu đẹp thì mình sẽ trưng ra 1 bằng chứng dễ thấy lắm nè, chữ “thương” đó, thương vừa có nghĩa là yêu thương chăm sóc nâng đỡ, mà thương cũng còn là tên 1 loại vũ khí làm người ta chảy máu như chơi. Mà tình yêu không phải như vậy sao? Là cho người mình hết mực yêu thương nguyên trái tim để cho người ta trọn vẹn cơ hội làm tổn thương mình…

Nói vậy thôi chớ ai nói thương mình mình cũng rưng rưng bồi hồi lắm lắm 😉

Thân thương

Suối Mây


Bài viết có liên quan

Tiếng Anh vi diệu

Học tiếng Anh dùng từ điển gì tốt nhất?

 

 

Advertisements